TỔNG QUAN HỆ THỐNG CÁC NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ KINH TẾ DƯỢC CỦA THUỐC TIÊM TRUYỀN ĐÓNG LIỀU SẴN SO VỚI THUỐCTIÊM TRUYỀN TRUYỀN THỐNG

Hoàng Minh Hoa1, Dương Ngọc Công Khanh2, Lê Hồng Minh3, Kiều Thị Tuyết Mai1, Nguyễn Thị Hà2

1Trường Đại học Dược Hà Nội

2Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

3Trung tâm nghiên cứu và Đánh giá kinh tế y tế

I. TÓM TẮT

Đặt vấn đề:

Thuốc tiêm đóng liều sẵn là một trong những giải pháp có khả năng làm giảm bớt các sai sót thuốc (SST) liên quan tới quá trình chuẩn bị và thực hiện thuốc so với thuốc tiêm truyền thống, trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả và an toàn của thuốc.

Mục tiêu:

Thực hiện một nghiên cứu tổng quan hệ thống về các đánh giá kinh tế y tế của thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn so với thuốc tiêm truyền truyền thống để cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan quản lý và các nhà hoạch định trong việc lựa chọn thuốc.

Phương pháp nghiên cứu:

Tổng quan hệ thống thực hiện theo hướng dẫn thực hiện tổng quan hệ thống của PRISMA [1].

Kết quả nghiên cứu:

Bốn nghiên cứu đạt tiêu chuẩn lựa chọn đã cho thấy các thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn có thể đem lại lợi ích trên nhiều khía cạnh. Thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn giúp giảm tỷ lệ SST, từ đó giảm chi phí điều trị liên quan tới SST, đồng thời có thể kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Ngoài ra, thuốc tiêm đóng liều sẵn có thể làm tăng tỷ lệ bệnh nhân được nhận điều trị.

Kết luận:

Việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn đem lại lợi ích về cả lâm sàng và kinh tế.

II. ĐẶT VẤN ĐỀ

Với cách sử dụng truyền thống, điều dưỡng là người sẽ chuẩn bị và thực hiện thuốc cho bệnh nhân khi có chỉ định của bác sĩ. Một nghiên cứu đã chỉ ra quá trình chuẩn bị cho một thuốc tiêm truyền tĩnh mạch tại phòng phẫu thuật có thể có tới 41 bước [2]. Thuốc tiêm đóng liều sẵn là một trong những giải pháp có khả năng làm giảm bớt các SST liên quan tới quá trình chuẩn bị và thực hiện thuốc tiêm truyền, trong khi vẫn đảm bảo hiệu quả và an toàn của thuốc. Kết quả từ một số nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng so sánh giữa việc dùng thuốc tiêm truyền theo cách truyền thống và thuốc đóng liều sẵn cho thấy thuốc đóng liều sẵn có hiệu quả, an toàn tương tự và giúp giảm đáng kể sai sót liên quan đến quá trình chuẩn bị thuốc [3, 4. Hơn nữa, việc chuẩn bị thuốc theo cách truyền thống làm kéo dài thời gian thuốc tiếp xúc với môi trường bên ngoài, do đó làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn dung dịch truyền [5]. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn dù được chuẩn bị ở quy mô nhỏ tại Khoa dược hay được thực hiện ở quy mô lớn tại các công ty dược đều phát sinh các chi phí liên quan đến trang thiết bị, vật tư và nhân lực tham gia quá trình đóng gói. Liệu rằng chi phí tăng thêm này có đem lại hiệu quả về lâm sàng và/hoặc kinh tế so với cách sử dụng thuốc tiêm truyền theo cách truyền thống hay không. Tìm kiếm trên y văn, chúng tôi chưa tìm thấy nghiên cứu tổng quan hệ thống nào được thực hiện để tổng hợp các bằng chứng hiện có về chi phí hiệu quả hoặc chi phí lợi ích của các thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn. Vì vậy, việc thực hiện nghiên cứu tổng quan hệ thống để tổng hợp các bằng chứng về kinh tế y tế của thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn so với thuốc tiêm truyền dùng theo cách truyền thông là cần thiết để cung cấp các bằng chứng cho các cơ quan quản lý và các nhà hoạch định trong việc lựa chọn thuốc.

III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Tổng quan hệ thống thực hiện theo hướng dẫn thực hiện của PRISMA (1).

Cơ sỡ dữ liệu và chiến lược tìm kiếm

Để tối đa hóa kết quả tìm kiếm, các bài báo liên quan tới câu hỏi nghiên cứu được tìm kiếm trên 2 cơ sở dữ liệu Medline (thông qua công cụ tìm kiếm Pubmed) và EMBASE dựa trên chiến lược kết hợp giữa trường can thiệp và trường thiết kế nghiên cứu, với ngày tìm kiếm cập nhật nhất là ngày 03/05/2021. Trong đó: Can thiệp: Thuốc tiêm đóng liều sẵn. Thiết kế nghiên cứu: Bất kỳ dạng nào của nghiên cứu đánh giá kinh tế y tế, bao gồm: nghiên cứu chi phí – lợi ích, nghiên cứu chi phí – hiệu quả, nghiên cứu chi phí – thỏa dụng, nghiên cứu chi phí – tối thiểu. Các từ khóa chính, cùng với tất cả các từ đồng nghĩa được sử dụng để tìm kiếm. Ngoài ra, MeSH terms cũng được sử dụng để tìm kiếm trên cả cơ sởdữ liệu Medline. Tài liệu tham khảo của các nghiên cứu phù hợp được rà soát để tối đa hóa kết quả tìm kiếm.

Lựa chọn nghiên cứu

Tiêu chuẩn lựa chọn:

  • Nghiên cứu so sánh thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn so với thuốc tiêm truyền truyền thống.
  • Kết quả của báo cáo có một trong những đầu ra về kinh tế y tế như sau: chi phí tăng thêm, hiệu quả tăng thêm, tỷ số chi phí tăng thêm trên hiệu quả tăng thêm (ICER), tỷ số chi phí – lợi ích (Benefit-cost ratio – BCR), chi phí tiết kiệm ròng (Net cost savings).
  • Là một trong các thiết kế nghiên cứu đánh giá kinh tế y tế: Chi phí-hiệu quả, chi phí-lợi ích, chi phí-thỏa dụng, chi phí tối thiểu.
  • Được xuất bản bằng tiếng Anh.

Tiêu chuẩn loại trừ:

  • Các bản ghi không lấy được bản toàn văn.
  • Các công bố không phải là nghiên cứu gốc: tổng quan, tổng quan hệ thống, phân tích gộp, thư ngỏ, đính chính, xã luận, thư gửi toàn soạn, đề cương nghiên cứu.
  • Các nghiên cứu trùng lặp: Chỉ nghiên cứu đầy đủ nhất, cập nhật nhất được lựa chọn.
Việc lựa chọn nghiên cứu phù hợp được tiến hành theo 2 bước:
  • Bước 1: 2 nghiên cứu viên độc lập sẽ tiến hành rà soát tiêu đề, tóm tắt của các bản ghi tìm được. Kết quả quá trình rà soát được so sánh, bất kì sự khác biệt nào sẽ được giải quyết bằng việc thảo luận và tham vấn nghiên cứu viên thứ 3 nếu cần.
  • Bước 2: Sau khi các bản ghi với tiêu đề, tóm tắt phù hợp đã được lựa chọn, bản toàn văn của chúng sẽ được rà soát độc lập bởi 2 nghiên cứu viên.
Kết quả quá trình rà soát được so sánh, bất kì sự khác biệt nào sẽ được giải quyết bằng việc thảo luận và tham vấn nghiên cứu viên thứ 3 nếu cần. Kết quả tìm kiếm và lựa chọn nghiên cứu được tóm tắt trong biểu đồ PRISMA.

 

IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Kết quả tìm kiếm

Hình 1. Sơ đồ PRISMA lựa chọn nghiên cứu
Tìm kiếm trên Pubmed và Embase, chúng tôi tìm được 389 bản ghi, sau khi loại bỏ 59 bản ghi trùng lặp, 330 bản ghi được sàng lọc tiêu đề, tóm tắt. 297 bản ghi bị loại bỏ, 33 bản ghi được tiếp tục rà soát bản toàn văn. Cuối cùng 4 bản ghi phù hợp với các tiêu chuẩn lựa chọn, tiêu chuẩn loại trừ được đưa vào tổng quan. (Hình 1)

Đặc điểm cơ bản của các nghiên cứu đưa vào tổng quan

Trong số 4 nghiên cứu tìm kiếm được từ y văn, 3 nghiên cứu (6-8) thực hiện đánh giá kinh tế y tế dựa trên mô hình phân tích cây quyết định, một nghiên cứu (4) được thực hiện đồng thời với nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
Bảng 1. Đặc điểm cơ bản của các nghiên cứu được đưa vào tổng quan hệ thống

Về các chiến lược so sánh của mỗi nghiên cứu, chỉ số đánh giá hiệu quả của các chiến lược khác nhau được tổng hợp tại Bảng 2
Bảng 2. Đặc điểm về can thiệp so sánh, hiệu quả của các can thiệp, chi phí và kết quả đầu ra của các nghiên cứu sử dụng mô hình phân tích

Kết quả về chi phí – hiệu quả

Theo ước tính trong nghiên cứu của Larmené–Beld, so với chiến lược 1 (dùng 100% thuốc tiêm truyền truyền thống), cả chiến lược 2 (dùng 100% thuốc tiêm đóng liều sẵn do khoa dược chuẩn bị) và chiến lược 3 (dùng 50% thuốc tiêm truyền truyền thống, 50% thuốc tiêm đóng liều sẵn do khoa dược chuẩn bị) đều tiết kiệm chi phí, với tổng chi phí tiết kiệm được lần lượt là xấp xỉ 10 triệu EUR và 5 triệu EUR trong 1 năm. Như vậy, từ quan điểm của bệnh viện, việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn do dược sỹ thực hiện tại Khoa dược tiết kiệm chi phí so với sử dụng thuốc tiêm truyền theo cách truyền thống. (6)
Theo ước tính, so với chiến lược sử dụng oxytocin truyền thống, việc sử dụng oxytocin Uniject làm giảm trên 40,000 ca xuất huyết sau sinh, làm tăng hơn 4,000 năm sống. Việc sử dụng oxytocin Uniject cũng làm tăng khoảng 0,02 đến 0,71 QALY trên mỗi 1000 ca sinh tại các cơ sở y tế(7). Trong số 30 quốc gia phân tích, oxytocin Uniject tiết kiệm chi phí ở 27% các quốc gia, ở các quốc gia còn lại, chi phí gia tăng trên mỗi ca sinh dao động từ 0,005 USD tới 0,85 USD. Tương ứng với đó, chỉ số ICER trên mỗi QALY tăng thêm dao động từ vượt trội đến 8.990 USD/QALY. Với ngưỡng chi trả 3 lần GDP bình quân đầu người, oxytocin Uniject đạt chi phí-hiệu quả ở cả 30 quốc gia. Đáng chú ý, tại 26 quốc gia, chỉ số ICER/QALY đạt ngưỡng dưới 1 GDP bình quân đầu người, cho thấy việc sử dụng oxytocin Uniject là một chiến lược rất đạt chi phí – hiệu quả so với oxytocin truyền thống.
Theo so sánh 4 chiến lược sử dụng dopamine khác nhau tại khoa chăm sóc tích cực, số ca SST gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe bệnh nhân trên mỗi 10.000 lượt dùng dopamine lần lượt là 1, 2, 4 và 17 cho thuốc đóng liều sẵn, thuốc được chuẩn bị bởi dược sĩ tại Khoa Dược, thuốc sử dụng hệ thống MINIBAS plus, và thuốc do điều dưỡng chuẩn bị tại Khoa Chăm sóc tích cực. Sau khi tính toán, chi phí trung bình cho một lượt tiêm truyền dopamine tại Khoa Chăm sóc tích cực lần lượt là COP $46.995 khi sử dụng dopamine đóng liều sẵn, COP $47.625 khi sử dụng dopamine do dược sĩ chuẩn bị và đóng liều sẵn tại khoa dược, COP $101.934 khi sử dụng dopamine với hệ thống MINIBAG plus, và COP $108.870 khi sử dụng dopamine theo cách truyền thống. Như vậy, từ quan điểm của cơ quan chi trả, có thể thấy việc sử dụng dopamine đóng liều sẵn tại Khoa Chăm sóc tích cực có thể giúp giảm SST, và tiết kiệm chi phí so với các chiến lược dùng thuốc khác. (8)
Dữ liệu từ thử nghiệm lâm sàng có đối chứng nhằm so sánh chiến lược sử dụng thuốc truyền tĩnh mạch dobutamin đóng liều sẵn so với cách dùng dobutamin truyền thống trên bệnh nhân phẫu thuật tim cho thấy hiệu quả và an toàn tương tự nhau. Do vậy, chỉ có sự khác biệt về chi phí được ước tính và so sánh giữa hai can thiệp. Từ quan điểm của bệnh viện, việc sử dụng dopamine đóng liều sẵn giúp tiết kiệm 2,92 EUR trên mỗi bệnh nhân so với sử dụng dopamine truyền thống. (4)

V. BÀN LUẬN

Từ việc tìm kiếm, sàng lọc và lựa chọn một cách có hệ thống trên 2 cơ sở dữ liệu Medline và Embase, chúng tôi chỉ tìm được 4 đánh giá kinh tế y tế so sánh việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn với cách dùng truyền thống (do điều dưỡng chuẩn bị khi cần sử dụng cho bệnh nhân khi có chỉ định của bác sỹ).
Số lượng nghiên cứu còn hạn chế, mỗi nghiên cứu lại thực hiện so sánh một thuốc khác nhau trên những đối tượng bệnh nhân khác nhau, với chỉ định khác nhau, từ các quan điểm phân tích khác nhau. Tuy nhiên, từ 4 nghiên cứu đưa vào tổng quan, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm chung của thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn đó là các thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn có thể đem lại lợi ích trên nhiều khía cạnh.
Trước hết, nhờ giảm bớt số khâu trong quy trình chuẩn bị thuốc và tiêm truyền thuốc, việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn (dù là do dược sĩ thực hiện tại Khoa dược hay mua trực tiếp công ty dược) có thể giúp giảm tỷ lệ SST, đặc biệt trong những tình huống cấp bách khi các nhân viên y tế phải làm việc dưới áp lực về thời gian. SST khi xảy ra có thể dẫn tới những biến cố bất lợi từ trung bình, nặng, tới nghiệm trọng và đe dọa tính mạng. Do đó khi giảm tiểu được tỷ lệ SST, chi phí điều trị liên quan tới SST sẽ giảm, đồng thời có thể kéo dài thời gian sống và nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Một lợi ích khác của thuốc tiêm đóng liều sẵn là có thể làm tăng tỷ lệ bệnh nhân được nhận điều trị. Lợi ích này đã được chứng minh một cách thuyết phục trong nghiên cứu của Pichon-Riviere A. và cộng sự(7). Chính nhờ việc thuận tiện, dễ dàng sử dụng, tiết kiệm thời gian chuẩn bị, việc sử dụng oxytocin Uniject có khả năng làm tăng đáng kể tỷ lệ sản phụ được điều trị dự phòng bằng oxytocin, từ đó có thể giảm tỷ lệ xuất huyết sau sinh – một trong những biến cố chính gây tử vong ở sản phụ.

 

VI. KẾT LUẬN

Mặc dù được đánh giá trong các bối cảnh rất khác nhau, với phạm vi áp dụng khác nhau từ tất cả các thuốc tiêm truyền tại bệnh viện tới một thuốc cụ thể cho một chỉ định cụ thể, và đánh giá từ nhiều quan điểm phân tích khác nhau, cả 4 nghiên cứu đưa vào tổng quan đều cho thấy việc sử dụng thuốc tiêm truyền đóng liều sẵn đem lại lợi ích về cả lâm sàng và kinh tế.

 

VII. TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Liberati A, Altman DG, Tetzlaff J, Mulrow C, Gøtzsche PC, Ioannidis JP, et al. The PRISMA statement for reporting systematic reviews and meta-analyses of studies that evaluate health care interventions: explanation and elaboration. Journal of clinical epidemiology. 2009; 62(10): e1-e34.
[2] Fraind Deborah B, Slagle JasonM, Tubbesing VictorA, Hughes SamuelA, Weinger MatthewB.Reengineering Intravenous Drug and Fluid Administration Processes in the Operating Room: Step One: Task Analysis of Existing Processes. Anesthesiology. 2002; 97(1): 139-47.
[3] Adapa RM, Mani V, Murray LJ, Degnan BA, Ercole A, Cadman B, et al. Errors during the preparation of druginfusions: a randomized controlled trial. British journal of anaesthesia. 2012; 109(5): 729-34.
[4] van der Linden P, Douchamps J, Schmitt C, Forget D. Ready-to-use injection preparations versus conventional reconstituted admixtures: economic evaluation in a real-life setting. PharmacoEconomics. 2002; 20(8) :529-36.
[5] Macias AE, Huertas M, de Leon SP, Munoz JM, Chavez AR, Sifuentes-Osornio J, et al. Contamination of intravenous fluids: a continuing cause of hospital bacteremia. American journal of infection control. 2010; 38(3): 217-21.
[6] Larmené-Beld KHM, Spronk JT, Luttjeboer J, Taxis K, Postma MJ.A Cost Minimization Analysis of Ready-to-Administer Prefilled Sterilized Syringes in a Dutch Hospital. Clinical therapeutics. 2019; 41(6): 1139-50.
[7] Pichon-Riviere A, Glujovsky D, Garay OU, Augustovski F, Ciapponi A, Serpa M, et al. Oxytocin in Uniject Disposable Auto-Disable Injection System versus Standard Use for the Prevention of Postpartum Hemorrhage in Latin America and the Caribbean: A Cost-Effectiveness Analysis. PloS one. 2015; 10(6): e0129044.
[8] Rosselli D, Rueda JD, Silva MD, Salcedo J. Economic Evaluation of Four Drug Administration Systems in Intensive Care Units in Colombia. Value in health regional issues. 2014;5: 20-4.

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 512 -THÁNG 3- SỐ 2 -2022

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

209 Hà Kế Tấn, phường Phương Liệt, TP Hà Nội.

Hotline

Hotline

+84 24 3999 9115

Email

Email

info@herac.org

Liên hệ

Liên hệ

với HERAC